Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

CON BỒ CÂU TRẮNG CỦA EM

Chị à, hôm nay chủ nhật, các con trông cháu, em soạn lại tủ sách cũ thấy cuốn MỘT TRĂM BÀI THƠ TÌNH do Hội văn học nghệ thuật Hà Bắc (cũ) ấn hành 5/1987. Nhà thơ Tế Hanh viết lời đề tựa. Danh họa Bùi Xuân Phái làm bìa. Trang 64 có bài thơ của chị. Em post lên mời chị xem lại. Mời gia đình FB thưởng thức bài thơ CON BỒ CÂU CỦA EM của nhà thơ, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát

Nguyễn Thị Hồng Ngát
CON BỒ CÂU CỦA EM

Người đàn bà ngồi trong vườn hoa
Tung những mẩu bánh mì
Đàn bồ câu no nê mổ...
Người đàn bà ấy đi rồi
Một người khác lại đến
Ngồi vào chỗ của bà
Những mẩu vụn bánh mì lại được tung ra
Đàn bồ câu lại no nê mổ...
Xa anh rồi. Anh yêu ơi
Em sợ cái người đàn bà thứ hai kia
đến ngồi vào chỗ của người đàn bà thứ nhất
Nếu anh cũng giống như những chú bồ câu
Anh sẽ chẳng nhớ em đâu
Dù bánh mì của em có vị cay của gừng
vị mặn của muối
Có nước mắt của cách xa
có thao thức của nhọc nhằn mỗi tối
Viết những lời yêu gửi gió bay đi
Ôi những mẩu lạ bánh mì
Mong anh, anh yêu ơi đừng bao giờ đến nhặt
Chị à, hôm nay chủ nhật, các con trông cháu, em soạn lại tủ sách cũ thấy cuốn MỘT TRĂM BÀI THƠ TÌNH do Hội văn học nghệ thuật Hà Bắc (cũ) ấn hành 5/1987. Nhà thơ Tế Hanh viết lời đề tựa. Danh họa Bùi Xuân Phái làm bìa. Trang 64 có bài thơ của chị. Em post lên mời chị xem lại. Mời gia đình FB thưởng thức bài thơ CON BỒ CÂU CỦA EM của nhà thơ, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát

Nguyễn Thị Hồng Ngát
        CON BỒ CÂU CỦA EM

Người đàn bà ngồi trong vườn hoa
Tung những mẩu bánh mì
Đàn bồ câu no nê mổ...
Người đàn bà ấy đi rồi
Một người khác lại đến
Ngồi vào chỗ của bà
Những mẩu vụn bánh mì lại được tung ra
Đàn bồ câu lại no nê mổ...
Xa anh rồi. Anh yêu ơi
Em sợ cái người đàn bà thứ hai kia
đến ngồi vào chỗ của người đàn bà thứ nhất
Nếu anh cũng giống như những chú bồ câu
Anh sẽ chẳng nhớ em đâu
Dù bánh mì của em có vị cay của gừng
                                    vị mặn của muối
Có nước mắt của cách xa
             có thao thức của nhọc nhằn mỗi tối
Viết những lời yêu gửi gió bay đi
Ôi những mẩu lạ bánh mì
Mong anh, anh yêu ơi đừng bao giờ đến nhé!
T

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

TẢN MẠN NGÀY CHỦ NHẬT VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN HIẾU


         Hôm nay chủ nhật, hai thằng cháu Tôm và Tũn đã có mẹ chúng nó trông nom nên tôi mới có cơ hội dọn tủ sách. Báo Văn Nghệ từ hồi bác Nguyên Ngọc còn làm TBT, các tạp chí, sách mua từ những thập niên cuối 70 đến cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỉ trước đã ố vàng, ghim đóng gáy sách đã han, mở cuốn nào cuốn ấy tả tơi ra từng tờ, từng mảnh. Lũ gián của bác Cả Hiếu nuôi, bò ra chạy nhập nhoạng, cuống cuồng.
      May mắn thay, giữa chồng sách cũ, tôi nhận ra tập thơ TÌNH YÊU CHO HÔM NAY do NXB Tác phẩm mới Hội Nhà văn xuất bản năm 1986. Cuốn sách dày 148 trang, in trên giấy xấu màu đen, in 3100 cuốn tại Nhà máy in Tiến Bộ gồm 74 bài thơ của 64 tác giả. Có 10 tác giả 2 bài là: Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Anh Ngọc, Lữ Huy Nguyên, Ngô Văn Phú, Bùi Minh Quốc, Thanh Thảo, Vũ Duy Thông, Vương Trọng, Võ văn Trực. Tập thơ kỷ niệm 30 năm thành lập Trường Đại học Tổng hợp (1956 ~ 1986). Tôi chọn ra bài thơ của bác Cả của tôi - Nhà văn Nguyễn Hiếu để giới thiệu với bạn bè FB. Bài thơ này tôi tìm cả trong "thằng" Wikipedia cũng không thấy đâu. Trân trọng mời bác Cả Nguyễn Hiếu và các bạn xem lại bài thơ EM GÁI TÔI LẤY CHỒNG XỨ HUẾ

Em gái tôi là người làng Chèm
Đem lòng yêu chàng trai xứ Huế
Đường xe ngựa ô không có
Cả hai đi tàu hỏa về quê

Làm dâu An Cựu mới ba năm
Giọng nói nghe chừng đã nghiêng nghiêng
Cả nhà xuýt xoa vì vị ớt
Tiếng "dạ" mênh mang thay tiếng "vâng"

Gọi nhầm sông Hồng với sông Hương
Tiếng "yêu" không nói kêu là "thương"
Ở Chèm vài buổi ra nhìn núi
Nghe chừng lắng chuông Thọ Xương buông

Đã là đang vui nó lại buồn
Cất giọng mái nhì nó ru con
Hải Vân xa nhìn mây Tam Đảo
Xập xòe én liệng cuối ghềnh sông

Mẹ tôi mắng nó chóng đổi thay
Chóng quên ơn mẹ, quên công thầy
Nó cười ngượng nghịu - Không phải thế
Nhưng mà biết nói thế nào đây?

Ngày mai nó vô tưởng nó vui
Ai hay trong bữa lại bùi ngùi
Tôi bỗng hiểu rằng lòng con gái
Ở đâu âu đấy trách gì ai.

12-4-1984
NGUYỄN HIẾU
Hôm nay chủ nhật, hai thằng cháu Tôm và Tũn đã có mẹ chúng nó trông nom nên tôi mới có cơ hội dọn tủ sách. Báo Văn Nghệ từ hồi bác Nguyên Ngọc còn làm TBT, các tạp chí, sách mua từ những thập niên cuối 70 đến cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỉ trước đã ố vàng, ghim đóng gáy sách đã han, mở cuốn nào cuốn ấy tả tơi ra từng tờ, từng mảnh. Lũ gián của bác Cả Hiếu nuôi bò ra chạy nhập nhoạng, cuống cuồng.
        May mắn thay, giữa chồng sách cũ, tôi nhận ra tập thơ TÌNH YÊU CHO HÔM NAY do NXB Tác phẩm mới Hội Nhà văn xuất bản năm 1986. Cuốn sách dày 148 trang, in trên giấy xấu màu đen, in 3100 cuốn tại Nhà máy in Tiến Bộ gồm 74 bài thơ của  64 tác giả. Có 10 tác giả 2 bài là: Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Anh Ngọc, Lữ Huy Nguyên, Ngô Văn Phú, Bùi Minh Quốc, Thanh Thảo, Vũ Duy Thông, Vương Trọng, Võ văn Trực. Tập thơ kỷ niệm 30 năm thành lập Trường Đại học Tổng hợp (1956 ~ 1986). Tôi chọn ra bài thơ của bác Cả của tôi - Nhà văn Nguyễn Hiếu để giới thiệu với bạn bè FB. Bài thơ này tôi tìm cả trong "thằng" Wikipedia cũng không thấy đâu. Trân trọng mời bác Cả Nguyễn Hiếu và các bạn xem lại bài thơ EM GÁI TÔI LẤY CHỒNG XỨ HUẾ

Em gái tôi là người làng Chèm
Đem lòng yêu chàng trai xứ Huế
Đường xe ngựa ô không có
Cả hai đi tàu hỏa về quê

Làm dâu An Cựu mới ba năm
Giọng nói nghe chừng đã nghiêng nghiêng
Cả nhà xuýt xoa vì vị ớt
Tiếng "dạ" mênh mang thay tiếng "vâng"

Gọi nhầm sông Hồng với sông Hương 
Tiếng "yêu" không nói kêu là "thương"
Ở Chèm vài buổi ra nhìn núi
Nghe chừng lắng chuông Thọ Xương buông

Đã là đang vui nó lại buồn
Cất giọng mái nhì nó ru con
Hải Vân xa nhìn mây Tam Đảo
Xập xòe én liệng cuối ghềnh sông

Mẹ tôi mắng nó chóng đổi thay
Chóng quên ơn mẹ, quên công thầy 
Nó cười ngượng nghịu - Không phải thế
Nhưng mà biết nói thế nào đây?

Ngày mai nó vô tưởng nó vui
Ai hay trong bữa lại bùi ngùi
Tôi bỗng hiểu rằng lòng con gái
Ở đâu âu đấy trách gì ai.

                                     12-4-1984
                                   NGUYỄN HIẾU

MÙA LÚA MỚI TRÊN VÙNG ĐẤT THIÊN TRƯỜNG

                               Ảnh: Cổng đền Trần ở phường Mỹ Lộc (TP Nam Định)                                                         
               Vùng đất Xuân Trường - Giao Thủy một phía giáp biển, một phía giáp vùng Hải Hậu, còn hai phía được tắm mát bởi phù sa sông Hồng và sông Ninh Cơ. Bên kia sông Ninh Cơ là vùng đất Trực Ninh. Đây là một trong những vùng đất thang mộc của nhà Trần. Trong ba lần giặc Nguyên sang cướp nước Đại Việt thì cả ba lần vua tôi nhà Trần đều bỏ kinh thành Thăng Long, xuôi dòng sông Cả (sông Hồng) lui về hương Tức Mặc. Nơi đây, các vua Trần xây dựng nhiều hành cung. Nhiều cuộc nghị sự đã diễn ra tại đây. Một trong những hành cung đó bây giờ là di tích đền Trần thuộc phường Mỹ Lộc, thành phố Nam Định. Năm 1262, vua Trần Thái Tông cho lập phủ Thiên Trường. Điều này có nghĩa, trước năm 1262 chúng ta đã có làng Tức Mặc với đơn vị hành chính là cấp hương (giống như ở thời Lý). Nhưng khi ấy, một làng (hương) to bằng một huyện bây giờ. Sau đó Thượng hoàng Trần Thái Tông đã xuống chiếu đổi hương Tức Mặc thành Phủ Thiên Trường. Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi chép: Phủ Thiên Trường bao gồm 4 huyện: Giao Thủy, Nam Chân, Mỹ Lộc và Thượng Nguyên. Hành cung Tức Mặc khi đó là thủ phủ. Kể từ khi chính thức được đổi thành Phủ Thiên Trường (1262) đến nay (2013), Thiên Trường- Nam Định đã trải qua 751 năm lịch sử.
             Tôi về nơi đây những ngày lúa hai bên đường tỉnh lộ và ven đê sông Hồng, sông Ninh Cơ đã chín. Tuy chưa chín rộ, còn nhiều thửa ruộng mới chín đỏ đuôi nhưng nhìn khắp cánh đồng đã trải một màu vàng óng ả. Lúa bằng đầu cây, không có thửa nào cây cao trội vì nông dân cấy cùng một giống lúa, cấy cùng một thời điểm sau tết ta. Buổi tối đi trên đường làng hoặc ra hóng mát phía bìa làng, hương lúa phả về thơm nức. Những đám rơm đã tuốt sạch hạt thóc phơi rải rác trên đường làng cũng vẫn tỏa ngào ngạt hương lúa mới. Bà con không đun rơm nữa mà chỉ phơi khô đốt bón ruộng. Nhiều gia đình dùng ga, bếp than tổ ong hoặc đun bếp trấu. Đi trên đê sông Ninh Cơ, gió mát rượi từ sông phả sang, từ cửa biển Thiên Trường (Giao Thủy) thổi vào lồng lộng mang theo ngạt ngào hương lúa mới đầu mùa. Tiếng chuông nhà thờ xứ Bùi Chu ngay cạnh sông Ninh Cơ thong thả buông, xen lẫn tiếng sáo diều vi vút làm tôi nao nao trong tâm trí. Bất giác, tôi nhớ đến giai điệu bài hát "Ngày mùa" của cố nhạc sĩ Văn Cao. Ông viết bài hát này năm 1948 nhưng vẫn tươi rói giai điệu một mùa vàng nông thôn Việt Nam yên bình. Tôi rất yêu bài hát này như yêu đồng lúa chín trĩu vàng nơi quê nhà mến thương

Ngày mùa vui thôn trang,
lúa reo như hát mừng.
Lúa không lo giặc về
khi mùa vàng thôn quệ
Ngày mùa vui thôn xóm,
đầy đồng giáo với gươm,
súng tì tay anh đứng,
em ngừng liềm trông sang.
Lúa lúa vàng, đồng lúa bát ngát trờị
Bao tay liềm từng nhánh lúa thơm rơị
Ngày vui quân du kích đứng im trông lúa dập dờn.
Người người qua gánh lúa,
nón nghiêng nghiêng cười ai
(Ngày) mùa vui thôn trang,
cũng như trên cánh đồng.
Nhớ công ơn già Hồ,
khi mùa vàng quê hương.
Ngày mùa quân du kích
đặt từng gánh trước sân,
dân làng vui như tết,
qua mùa này không lọ
Gánh thóc vàng từng lớp gánh về.
Gánh thóc vàng từng sớm nắng trên đê
Ngày vui quân du kích đứng im trông lúa dập dờn
Rồi rời sang xóm khác, nhớ lúc ai nhìn theọ


Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

KHÓM CHUA ME (TẢN VĂN)

THU ĐÃ QUA


                                                                                  



                                   THU ĐÃ QUA

                          Mùa thu đi qua sân nhà em,                 
                          nhuốm vàng màu áo
                          Mùa thu đi qua ngõ nhà anh,
                          mây trắng bồng bềnh hư ảo

                      
                          Lá vàng rơi nghiêng,
                          nỗi nhớ rơi nghiêng,
                          rót vào chén rượu,
                          chạm bờ môi giọt đắng

                      
                          Lạnh bờ vai
                          Mùa thu đi qua tự bao giờ.

                                                       
                                                                 05h 24/3/2004
                                                          
                                                          NGUYỄN ĐÌNH THÁI













EM - CON ĐƯỜNG VÀ GIỌT SƯƠNG*

          
Ánh sao trời mờ tỏ khuôn mặt em,
con đường vắng sương đêm mát đất
Lóng lánh sao, long lanh đôi mắt,
lúm đồng tiền in dấu đỏ ngực anh

                                       Rạng rỡ em cười, đôi mắt long lanh
                                       Sương đêm xuống làm duyên trên mái tóc
                                       Nồng nàn hương thơm trong hơi thở gấp
                                       Anh chạm vào thổn thức vai em

Chỉ hai đứa mình ngồi với sương đêm,
em nũng nịu nép vầng ngực anh vạm vỡ
Em khúc khích trong ấm nồng hơi thở
Em mải mê, ngọt lịm môi xinh

                                         Cả thời trai anh ngơ ngác đi tìm
                                         Vạn quả đắng, trời đền riêng quả ngọt
                                         Gieo triệu hạt mới gặt mùa hạnh phúc
                                         Ta ươm hoa cho kết trái vụ sau

Sợi tơ trời trói ta lại với nhau
Tình yêu chỉ đôi tim mách bảo
Em ơi, rồi sẽ qua mùa giông bão,
em lại cười khúc khích giữa ngực anh

                                                                             4-/2003

                                                                  NGUYỄN ĐÌNH THÁI

* Rút trong tập thơ GƯƠNG THAN LẤP LÁNH - NXB Văn học 2011





ĐỢI THU*


    
Có một chiều Tháng Tám, anh vắng em,
ly rượu tràn, không buồn đưa tay nhấc
Lá vàng rụng, vương trên mái tóc,
rớt xuống bàn, nỗi nhớ cong queo

Bao người qua, anh thơ thẩn trông theo
Chợt tiếng quen, giật mình xoay ghế lại
Tiếng dịu dàng của mấy cô con gái,
không phải em. Em ở tận nơi nao?

Thu úa vàng ở tít tận trời cao,
anh ngước mắt chạm cái nhìn vòm lá,
chợt chạm vào long lanh cái nhớ
Chạm vào môI, ly rượu rơi nghiêng

Chiều muộn dần, đợi mãi chẳng thấy em
Rượu hết rồi, lấy chi bầu bạn
Chén khô rồi, nhưng nhớ thì không cạn,
nỗi khổ nào bằng nỗi khổ chờ mong?

Em lỡ hẹn, để  anh đợi trông,
Rượu uống một mình say nghiêng, say ngả
Bất giác, đưa tay cầm chiếc lá,
thổi bay lên trời, anh thầm gọi: thu ơi…

                                                    16/8/2003

                                     NGUYỄN ĐÌNH THÁI

* Rút trong tập thơ GƯƠNG THAN LẤP LÁNH
   NXB Văn học 2011









CHIỀU VẮNG EM


Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

VŨ KHÚC THỢ LÒ

        

                         Tặng con tôi và tất cả thợ trẻ Than Hà Lầm  

          Người thợ lò tôi gặp chiều nay
          Chính là người như tôi đã thấy
          Người thợ ấy đêm qua trên sàn nhẩy
          Tôi gặp anh trên chuyến Mô tô ray

          Anh nhịp nhàng trong vũ điệu mê say
          Xoay tròn Vans, bốc lửa Cha cha, Rumba sôi nổi
          Tôi thử hình dung qua từng bước nhảy
          Nhịp khúc nào khéo xoay nhịp choòng khoan

          Vũ điệu Rum-ba nhún nhảy tới gương than
          Kíp lê múa Tang go trên băng tải
          Lò thủng, gió tươi lùa. Vans trong lò cái
          Roc. Phăm phăm, xối xả vỉa than tuôn

          Vuốt mồ hôi, lại luyến láy “người ơi”,
          hẹn người về gương than đen nhánh
          Cặp mắt nào chợt về lóng lánh
          Tình chát dân ca, giòn phách lới lơ

          Lò chợ chiều ngập vũ điệu Rum ba
          Mìn nổ, tựa Roc sàn đang bốc lửa
          Vạm vỡ ngực trai. Than ào như suối vỡ
          Tim trai lò thậm thịch Cha cha cha

          Anh gặp tôi sau buổi tan ca:
         “ Ai dám bảo thợ lò không sành điệu
          Ai thiếu gì nhưng chúng tôi không thiếu,
         chủ nhật nào cũng vũ điệu Cha cha cha”

                                                         4/7/2010
                                              Sửa lại:30/9/2010
                                                                                
                                           NGUYỄN ĐÌNH THÁI


                                                  




BỨC PHÁC HỌA THỢ LÒ CƠ BẢN*

                                                                           Tặng thợ lò KTCB1
 
                             Ẩn đằng sau gương mặt loáng mồ hôi
                             là nét duyên của thợ lò Cơ bản (1)
                             Khuất phía trong tấm áo xanh bụi bám.
                             vạm vỡ ngực trần của những chàng trai.

                             Tổ chúng tôi nhiều tuổi nhất mới hăm hai,
                             còn sàn sàn đôi mươi, mười chín
                             Tranh luận với nhau, ít người chịu nhịn,
                             bởi chẳng đứa nào lép vế chịu làm em.

                             Ba mươi chàng trai, ba mươi trái tim,
                             chạm mặt gương than là chung nhịp đập
                             Gương mặt ngời lên, những bắp tay săn chắc
                             Vỉa đá dày phải lùi bước trước chúng tôi.

                             Vì chống dựng lên, lưng áo sũng mồ hôi
                             Uống bao nhiêu cũng không nguôi cơn khát
                             Thế mà hứng, lại hòa chung giọng hát
                             Cơn khát bay đi như chưa khát bao giờ.

                             Phút giải lao cả tổ tập làm thơ
                             Hì hục ghép vần, lại loay hoay chấp bút
                             Thế mới biết làm thơ là khó thật.
                             nhọc nhằn hơn chống cả mấy vì gương (2).

                             Xong vỉa Cánh Tây (3), cả tổ lại lên đường,
                             gõ vào đất bắt vàng đen (4) mở cửa.
                             Sàn sàn đôi mươi, sàn sàn ba chục đứa
                             Tổ Quốc cần than, có chúng tôi!

                                                                                       04/8/2005

                                                                            NGUYỄN ĐÌNH THÁI
                            Bài thơ in trong tập thơ KHƠI NGUỒN SUỐI THAN – NXB Văn học 2010

CHÚ THÍCH:
(1)  Công trường Kiến thiết cơ bản I (Viết tắt là KTCBI) tên một  trong những đơn vị chuyên đào lò chuẩn bị của Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin.
(2)  Thuật ngữ nghề mỏ: Tiết diện (mặt cắt phẳng của đá hoặc than) theo khuôn (hộ chiếu) một vì chống lò. Vật liệu dùng chống lò bằng gỗ hoặc kim loại. Ngày   nay loại vì chống này người ta dùng thép chịu lực.                                                                                        
(3)  Tên một vỉa (khu vực khai thác). Vỉa: Một dải đất có tài nguyên than (danh từ địa chất).
(4)  Mỹ từ chỉ than có ý nghĩa ví than quý như vàng. V.I Lê nin đã từng gọi than là “Bánh mỳ của công nghiệp nặng”.



                                                     






KHÚC THƠ TÌNH THỢ MỎ*


                          Ở dưới lò sâu anh gửi em chút ấm
                          Trên ấy nhà sàng có lạnh lắm không em?
                          Đêm. Gió đại hàn. Em có mặc ấm thêm?
                          Anh nhớ nhiều về em lắm đấy!

                          Em thấy không, than dưới lò như sông chảy
                          Vầng ngực anh sưởi nóng sông than
                          Em có thấy ấm nồng tay em
                          hơi thở vỉa than hòa tiếng anh đang thở gấp?

                          Trái tim anh đang hoà cùng nhịp đập
                          Tần suất của tim chung tần suất sàng em
                          Nhịp máy sàng hoà cùng nhịp choòng khoan
                          Anh nghe rõ nhịp tim em trên ấy.

                          Băng tải dài như sông than đang chảy
                          Máy sàng than tựa cầu bắc ngang sông
                          Mưa xuân giăng kết bảy sắc cầu vồng
                          Nhờ sông than nối lò sâu lên em đấy.

                          Áp vào vách than nghe nhịp nhàng tiếng máy
                          Nghe cả tiếng kíp-lê nhảy vũ khúc trên sàng
                          Nghe tiếng mầm cây. Xuân đã sang
                          Nghe tiếng lòng em. Xuân đang đến.

                          Giêng hai này, mùa xuân ước hẹn
                          Mùa cau tươi, mùa trầu quế nồng th¬m
                         Th­a mÑ, th­a thÇy, anh ®Õn cÇu h«n
                          Lễ vật đón dâu: Khúc thơ tình thợ mỏ.

                                                                2h 9/1/2012
                                                      NGUYỄN ĐÌNH THÁI

           Bài đã in trong: - Tập thơ LỬA THAN – NXB Hội Nhà văn 2012
                                      - Tạp chí THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
số Tết Quý Tỵ 2013.
*Giải khuyến khích thơ Lê Thánh Tông lần thứ XIV
năm 2011 





Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

DỰ CẢM THU*



                                  
                                             
                     Chẳng đợi gì, ta về lại mùa thu
                     Mệt mỏi vì sương, nhạt phai vì gió
                     Chợt
                             thót mình
                                            vì sắc vàng
                     lá úa

                    Lùa vào tim, thấy nhịp đập trễ dần đi

                     Chẳng cần chi, ta nán lại trong thu
                     Dự cảm mùa đông về gần lắm
                     Chợt run lên
                                           quờ tay tìm hơi ấm
                     Chạm vào lạnh giá chính tay ta
                    
                     Chẳng cầu chi, ta náu lại với thu
                      Bình thản chờ đông về cầm tay dắt
                      Bỗng đâu thấy lòng mình se sắt
                      Hắt ngược vào trong, hơi thở nhẹ tênh

                      Chẳng cớ chi
                                              ta trốn lại vào em
                      Thu hờ hững
                                           mặc đông về
                                                               phũ phàng
                                                                               buông hơi rét
                      Ta lạnh lùng
                                           lùa tay vào
                                                             miền nuối tiếc
                      Thu rùng mình
                                               trút áo
                                                          trả mùa đông


                                                                           Đã sang 27/9/2010 hai tiếng
                                                                            Sửa lại:30/9/2010

                                                                           NGUYỄN ĐÌNH THÁI

*Rút trong tập thơ GƯƠNG THAN LẤP LÁNH – NXB Văn học 2011

                                              

                    

NHỮNG MẢNH RỪNG CON GÁI*



                                      Những cánh rừng con gái một thời
                                      Ở Sơn Lang, những cánh rừng như thế
                                      Ở Đăk Roong, những mảnh rừng rất trẻ
                                      Rừng trẻ hơn những cô gái chưa chồng.
                            
                                      Làng đơn thân lẻ bóng dưới tán rừng
                                      Mỗi mảnh rừng một mảnh đời con gái
                                      Các chị già, rừng thì trẻ lại
                                      Rừng hồi sinh trên đất chết đioxin.

                                      Những nàng xinh xinh, con gái đất Hưng Yên
                                      Những o nớ đến từ Nghệ An, Thanh Hóa…(1)
                                      Những phơi phới xuân thì đi ươm cây xứ lạ
                                      Phơi phới ước mơ về những cánh rừng.

                                      Chiều ríu ran những giọng nói chưa chồng
                                      Vỡ vụn thủy tinh giòn tan cười con gái
                                      “Tiếng quê tau, răng mi cứ nhại
                                      Chừ… phạt vạ mi phải hát mấy điệu chèo”

                                      Điệu “Sa lệch chênh” nghiêng ngả rừng chiều
                                      Cô gái Hưng Yên bỗng buông chùng câu hát
                                      Cả cánh rừng vỡ òa tiếng khóc
                                      Cố hương! Chao ôi, vời vợi trùng xa.

                                      Giấu kín phong thư em gái quê nhà:
                                      “Người yêu chị vừa hôm qua lấy vợ
                                      Chị ơi, đừng buồn nhiều, chị nhớ…
                                      Chị mới còn mười tám, đôi mươi thôi!”

                                      Giấu kín quặn đau trong gượng gạo nụ cười
                                      Níu lấy thân cây, cây đỡ người không gục ngã
                                      Cây thì biếc, người sạm đen đôi má
                                      Cây yêu người, rừng run rẩy hồi sinh.

                                      Không phụ người, rừng ngút ngát tươi xanh
                                      Cây phổng phao thành cánh rừng con gái
                                      Những cô gái không phổng phao trở lại,
                                      bởi nước mắt, mồ hôi vắt kiệt tưới rừng.

                                      Thời thanh xuân, má con gái thắm hồng
                                      Thắm hồng ấy xanh vào vòm lá biếc
                                      Tóc rụng bao lần qua nghìn cơn sốt rét
                                      Quờ tay nhau tìm hơi ấm giữa đêm mưa.

                                      Ngày ở Tây Nguyên đủ cả bốn mùa
                                      Sáng xuân, trưa hạ, chiều thu mát
                                      Lán con gái đêm về chung chăn đắp
                                      Nhiều đứa nhớ quê, nhớ mẹ khóc rung giường.

                                      Chín tháng mùa khô, chín tháng nằm rừng
                                      Mùa mưa lũ lại hành quân về “hậu cứ” (2)
                                      “Biết thế ni nỏ muốn về trong nớ
                                      Ba tháng ngồi không nhớ mẹ, nhớ rừng thêm”.

                                      Biết là mùa mưa gian khổ nhiều hơn
                                      Nhìn xoong bo bo, quay đi ôm mặt khóc
                                      Nhìn lũ về, suối ngập tràn, sông chảy xiết.
                                      Cháy cả ruột gan: rừng có sao không?                                
                                      
                                      Làng đơn thân, những cô gái chẳng lấy chồng
                                      Quay lại, quay đi vẫn lưng ong con gái
                                      Thèm quay quắt một tiếng người khác phái
                                      Nhớ nôn nao một tiếng gọi : “Em ơi…!”
                                                                                                       
                                      Làng đơn thân, bao thân phận con người
                                      Hồ nước tưới cây, “… một mình em vượt cạn.
                                      Vượt cạn ngay cả khinh khi ghẻ lạnh
                                      Vượt cạn ngay cả nghị lực của chính mình…”

                                      Những cô gái không bao giờ lấy chồng
                                      Cây rừng kết phòng the mà không chú rể
                                      Những cánh rừng đang thì rất trẻ
                                      Chỉ những đứa trẻ “xin” là duy nhất đàn ông.

                                      Ơi KBang, Sơn Lang, Đak Roong (2)
                                      Ơi những cánh rừng Tây Nguyên thăm thẳm
                                      Rừng hoàn nguyên, cây trẻ trung xanh thắm
                                      Tôi chợt hiểu vì sao, lá chát mặn trên môi.

                                                                                          02h 30 23/8/2012

                                                                                   NGUYỄN ĐÌNH THÁI

CHÚ THÍCH:
* Nhân đọc bài báo “Những cánh rừng con gái” của nhóm tác giả Thanh Toàn và Hữu Cường đăng trên trang 7 chuyên đề An ninh – Xã hội, báo Nhân Dân cuối tuần, số ra ngày12/8/2012.
(1) Theo số liệu bài báo: Năm 1984 có gần 3000 cô gái từ miền Bắc và bắc Trung bộ được vận động, xung phong về làm nhiệm vụ ươm cây, phát cỏ, trồng rừng tại Gia Lai trong số gần 5000 người.
(2) Nơi đơn vị đóng bản doanh. “Hậu cứ”: Cách dùng từ chỉ địa điểm đứng chân của đơn vị tác chiến thời chiến tranh. Tác giả (phần thơ) coi công cuộc trồng rừng cũng gian khổ, ác liệt chẳng kém những ngày đánh giặc.
(3) Những địa danh thuộc huyện KBang (Gia Lai).